Bức tranh tín dụng H1/2026: Nợ xấu phồng nhanh hơn dư nợ
Quốc hội khóa XVI họp bất thường: Cú hích thể chế cho kinh tế 2026
03/08/2026
Giá dầu giảm 5%: Thỏa thuận hay chiêu bài tâm lý tại Hormuz?
04/08/2026
Quốc hội khóa XVI họp bất thường: Cú hích thể chế cho kinh tế 2026
03/08/2026
Giá dầu giảm 5%: Thỏa thuận hay chiêu bài tâm lý tại Hormuz?
04/08/2026

Bức tranh tín dụng H1/2026: Nợ xấu phồng nhanh hơn dư nợ

Báo cáo tài chính bán niên 2026 của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang phác họa một bức tranh kinh tế đầy tính chu kỳ: Tốc độ gia tăng nợ xấu đang vượt xa đà mở rộng dư nợ tín dụng. Dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hầu hết các nhà băng vẫn được kiểm soát dưới ngưỡng an toàn 3% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), việc các khoản nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) phồng to đột biến đang dấy lên những cảnh báo quan trọng. Đi kèm với đó là áp lực lệch pha kỳ hạn giữa huy động và cho vay khi cầu tín dụng phục hồi nhanh hơn đà tăng tiền gửi. Đọc tiếp bài phân tích dưới đây để hiểu rõ các tầng rủi ro và cơ hội đầu tư cổ phiếu ngân hàng trong nửa cuối năm 2026.

1. Sự lệch pha giữa đà tăng tín dụng và tốc độ phồng to của nợ xấu

Số liệu báo cáo tài chính hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 tại các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu phản ánh áp lực suy giảm chất lượng tài sản tương đối rõ nét.

  • Ngân hàng TMCP Quân đội (MB – MBB):

    • Tín dụng: Dư nợ cho vay khách hàng hợp nhất đến 30/06/2026 đạt 1.227.554 tỷ đồng, tăng 13,2% so với đầu năm.

    • Nợ xấu: Tổng nợ xấu (nhóm 3 đến 5) vọt lên 17.797 tỷ đồng, tăng tới 26,8% — tốc độ tăng nợ xấu gấp hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng tín dụng.

    • Cơ cấu nợ: Tỷ lệ nợ xấu đẩy từ 1,29% lên 1,45%. Trong đó, nợ nhóm 5 (khả năng mất vốn) tăng tới 36,2% (đạt 8.747 tỷ đồng); nợ nhóm 3 (dưới tiêu chuẩn) tăng 41% (đạt 4.622 tỷ đồng). Nợ nhóm 2 tăng 17,4% lên sát 12.000 tỷ đồng, nâng tổng dư nợ có vấn đề (nhóm 2 – 5) lên mốc 29.800 tỷ đồng (chiếm 2,4% tổng dư nợ).

  • Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank – TCB):

    • Ghi nhận nợ xấu gia tăng thêm 972 tỷ đồng trong 6 tháng, tương ứng mức tăng gần 12%, giữ tỷ lệ nợ xấu quanh mức 1,1%.

  • Nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ:

    • KienlongBank (KLB): Nợ nhóm 5 tăng mạnh gần 25%, hiện chiếm tới hơn 55% tổng quy mô nợ xấu.

    • Bac A Bank (BAB): Tổng nợ xấu tăng 5,9%, chạm mốc 1.540 tỷ đồng.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính hợp nhất Quý II/2026 của MB, TCB, KLB, BAB (Cập nhật tính đến ngày 30/06/2026).

    TỐC ĐỘ TĂNG TÍN DỤNG VS NỢ XẤU TẠI MB (H1/2026 SO VỚI ĐẦU NĂM)     
  [Tín dụng cho vay] : [===========>                      ] +13,2%      
  [Nợ xấu nội bảng ] : [=========================>        ] +26,8%      
  [Nợ nhóm 5 (Mất vốn]: [================================> ] +36,2%     

2. Phân tích rủi ro: Đệm tài sản và áp lực mất cân đối nguồn vốn

Sự gia tăng nhanh chóng của các khoản nợ nhóm 2 và nhóm 3 được các chuyên gia phân tích đánh giá là “vùng đệm rủi ro” cần theo dõi sát sao. Nếu sức khỏe tài chính của các doanh nghiệp không hồi phục đủ nhanh, nhóm nợ này sẽ dịch chuyển sang nợ xấu nội bảng trong các quý tiếp theo, buộc ngân hàng phải gia tăng chi phí trích lập dự phòng, từ đó bào mòn lợi nhuận.

Yếu tố rủi ro Hiện trạng bán niên 2026 Tác động tới hệ thống ngân hàng
Nợ nhóm 2 & nhóm 3 Tăng từ 17% – 41% ở nhiều ngân hàng lớn. Rủi ro nợ xấu tiềm ẩn bùng phát trong Quý III và Quý IV/2026.
Thanh khoản & Huy động Tăng trưởng tiền gửi chậm hơn tăng trưởng dư nợ cho vay. Tạo áp lực lên tỷ lệ LDR (cho vay/huy động), buộc nâng lãi suất tiền gửi.
Chi phí vốn (CoF) Sức ép đua nâng lãi suất huy động ngắn hạn. Thu hẹp biên lãi ròng (NIM) của các nhà băng phụ thuộc tiền gửi dân cư.
Khung pháp lý xử lý nợ Nghị quyết 42/2017/QH14 đã hết hiệu lực từ đầu năm 2024. Quá trình phát mại tài sản đảm bảo và thu hồi nợ gặp nhiều vướng mắc thủ tục.

Theo đánh giá của Khối Phân tích Chứng khoán VCBS: Mặc dù đệm dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng hàng đầu vẫn tương đối dày, nhưng rủi ro nợ xấu trong nửa cuối năm 2026 vẫn là yếu tố then chốt chi phối triển vọng định giá ngành ngân hàng.

Ông Đào Minh Tú – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nhận định: Khả năng hấp thụ vốn và trả nợ của doanh nghiệp vẫn chưa thực sự ổn định. Trong khi nhu cầu vay tăng tốc, đà tăng huy động vốn lại tụt lại phía sau, vô hình trung gây ra áp lực lệch pha thanh khoản cục bộ và kéo mặt bằng lãi suất cho vay khó giảm thêm.

Tóm lại, bức tranh tín dụng nửa đầu năm 2026 cho thấy ngành ngân hàng đang tiến vào giai đoạn phân hóa mạnh mẽ. Dù đà tăng trưởng tín dụng tích cực phản ánh sự hồi phục của nền kinh tế, nhưng việc nợ xấu và nợ tiềm ẩn phồng to nhanh hơn dư nợ đang đặt các nhà điều hành hành chính và ngân hàng thương mại trước thách thức quản trị chất lượng tài sản gay gắt.

Đối với nhà đầu tư tài chính, việc lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng trong giai đoạn cuối năm 2026 cần ưu tiên các nhà băng có:

  1. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLRC) cao.

  2. Khả năng duy trì NIM tốt nhờ lợi thế CASA mạnh.

  3. Mô hình quản trị rủi ro chặt chẽ để tối ưu hóa chi phí trích lập.