Nhập môn Chứng Khoán- tư duy và hành động cho người mới ( bài 4) – Tesef.net

Nhập môn Chứng Khoán- tư duy và hành động cho người mới ( bài 4)

Nhập môn Chứng Khoán- tư duy và hành động cho người mới ( bài 3)
29/12/2021
Điểm tin tuần từ 3/1-7/1/2022: Chú ý non-farm đầu năm và các tin PMI
03/01/2022

Nhập môn Chứng Khoán- tư duy và hành động cho người mới ( bài 4)

Tiếp nối chuỗi bài viết giới thiệu, hướng dẫn người mới tham gia thị trường chứng khoán, ở bài viết số 4 này, hãy cùng Tesef tìm hiểu những giả định- cấu thành nên 2 trường phái phân tích phổ biến hiện nay là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật nhé.

Những yếu tố này là những nội dung quan trọng, bản chất và là nền tảng tư duy quan trọng cho mọi nhà đầu tư. Vì vậy, đừng bỏ qua chúng.

Trading Theories Explained - My Trading Skills

1- Những giả định của phân tích cơ bản

+ Mối quan hệ giữa giá trị và các yếu tố tài chính là có thể đo lường được

+ Mối quan hệ này ổn định trong một khoảng thời gian đủ dài. 

+ Các sai lệch của mối quan hệ sẽ được điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp

Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản. Một số nhà phân tích thường sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền mặt để xác định giá trị của công ty, trong khi đó một số người lại sử dụng tỷ số giá trên thu nhập (P/E) … 

Các nhân tố cơ bản cần nghiên cứu bao gồm: phân tích thông tin cơ bản về công ty; phân tích báo cáo tài chính của công ty; phân tích hoạt động kinh doanh của công ty; phân tích ngành mà công ty đang hoạt động; và phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng chung đến giá cả cổ phiếu. Sau khi nghiên cứu, nhà phân tích có nhiệm vụ phải chỉ ra được những dự đoán cho những chỉ tiêu quan trọng như thu nhập kỳ vọng, giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu, giá trị hợp lý của cổ phiếu, các đánh giá quan trọng cũng như khuyến nghị mua/bán cổ phiếu trên thị trường. 

Định giá là một phần của phân tích cơ bản. 

Định giá là việc đánh giá giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định. Việc định giá chủ yếu dựa vào các số liệu tài chính để phân tích, đánh giá như P/E, tài sản ròng có điều chỉnh…

Nhiều người cứ nhắc đến phân tích cơ bản là nghĩ đến định giá, nhất là các bạn mới biết cách chơi chứng khoán. Tuy nhiên, sử dụng rất nhiều mô hình định giá (financial mode) nhưng thiếu các yếu tố đánh giá định tính nên không hiệu quả. Để định giá chính xác, bạn phải phân tích khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực của đội ngũ lãnh đạo… 

Phân tích cơ bản  không phải phân tích tin tức, nhưng có tác động lẫn nhau 

Phân tích các tin tức như Brexit, bầu cử tổng thống .. 

Phân tích cơ bản tập trung phân tích khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, năng lực của đội ngũ quản lý. Phân tích cơ bản trả lời câu hỏi: “Tôi nên mua cổ phiếu nào”. Còn phân tích tin tức là xem xét ảnh hưởng của tin tức đến giá cổ phiếu. Chúng hỗ trợ lẫn nhau để có được đánh giá thị trường chính xác hơn trong từng thời điểm. Tuy nhiên phân tích tin tức vô cùng phức tạp vì không dễ để nhà đầu tư đánh giá được những tin tức thực sự có ý nghĩa đến biến động giá cổ phiếu. 

2- Những giả định của phân tích kỹ thuật

+Hành vi của bất kỳ cổ phiếu nào, hoặc của cả thị trường cổ phiếu, đều có thể liên quan đến xu hướng diễn biến theo thời gian, trong đó xu hướng là phương hướng chính đi lên hay đi xuống của cổ phiếu (hoặc cả thị trường cổ phiếu). 

+Biến động giá không phải là ngẫu nhiên mà chúng xảy ra dưới các dạng thức có thể được phân tích để dự đoán biến động tương lai. 

+Biến động thị trường được phản ánh tất cả trong giá cổ phiếu. 

+Lịch sử được lặp lại do bản chất của con người (nhà đầu tư) là không đổi nên sẽ lặp lại những hành vi giống nhau trước những tình huống tương tự, và điều đó dẫn đến các xu hướng giá cả lặp lại. 

Để thực hiện phân tích kỹ thuật, nhà đầu tư phải dựa vào hình ảnh các đồ thị, trong đó trục tung biểu thị giá cổ phiếu và trục hoành biểu thị đường thời gian, với nhiều dạng như đồ thị đường thẳng (line chart), đồ thị dạng vạch (bar chart), hoặc đồ thị hình nến (candlestick chart). Thông qua đó, nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các chỉ báo phân tích kỹ thuật thông dụng như đường xu thế, kênh xu thế, mức hỗ trợ, mức kháng cự, điểm đột phá, đường trung bình động, chỉ số sức mạnh tương đối, dải Bollinger. 

Indicator chỉ là một yếu tố trong phân tích kỹ thuật

Mọi người thường hiểu nhầm phân tích kỹ thuật với việc sử dụng các chỉ báo, indicator ( như sử dụng đường MA, MACD, RSI,..). Thực ra chỉ báo chỉ là một phần của phân tích kỹ thuật giúp tìm các điểm mua bán “tiềm năng” .Indicator chỉ là level 1 trong những level “bá đạo‟ của phân tích kỹ thuật.

Level 1. Indicator dự đoán xu hướng của giá và chọn điểm mua bán. 

Level 2. Xu hướng : Đánh giá xu hướng của giá trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn để biết xem cổ phiếu có đang trong xu thế tăng hay không? 

Level 3. Sóng Elliott và Fibonacci: Sử dụng lý thuyết sóng Elliott và công cụ Fibocacci để xác định bước đi, biên độ của giá nhằm xác định khi nào giá sẽ lên, lên đến đâu và lên trong bao lâu… để giúp nhà đầu tư lựa chọn những điểm mua/bán lợi thế 

Level 4: Kết hợp cả 3 yếu tố trên. 

Phân tích kỹ thuật tập trung giải quyết câu hỏi: Giá sẽ chuyển động như thế nào? 

Ưu điểm của phương pháp này đó là dự báo được xu hướng thay đổi của giá trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn mà không cần quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. 

Nhược điểm của nó là những dự báo này đề mang tính chủ quan của người phân tích và đối với những ai mới học cách chơi chứng khoán thường chỉ sử dụng indicator, các tín hiệu bị trễ so với chuyển động của giá.

Nhìn chung phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật đều dựa trên luật cung cầu và cùng trả lời câu hỏi: diễn biến của giá cổ phiếu như thế nào? Hai phương pháp chỉ khác nhau về cách thức tiếp cận: phân tích cơ bản quan tâm đến nguyên nhân, còn phân tích kỹ thuật quan tâm đến kết quả. 

< Còn tiếp>